Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư vấn thành lập doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư vấn thành lập doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 16 tháng 3, 2023

Các mặt hàng có tiềm năng tăng trưởng tại Việt Nam qua Hiệp định UKVFTA



Từ năm 2021, Hiệp định UKVFTA được đàm phán dựa trên nguyên tắc kế thừa các cam kết đã có trong Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) với những điều chỉnh cần thiết để đảm bảo phù hợp với khuôn khổ thương mại song phương giữa Việt Nam và UK đã có hiệu lực.


Sau khi Hiệp định UKVFTA được ký kết, một số mặt hàng tại Việt Nam khi thực hiện xuất khẩu sang thị trường Anh quốc, nếu đáp ứng điều kiện, sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan từ Hiệp định, đây là cơ hội tốt để hàng hóa Việt Nam được nhập khẩu vào thị trường Anh.

Năm 2019, Anh nhập khẩu chủ yếu từ Việt Nam mặt hàng may mặc. Trong đó, 10 mặt hàng may mặc xuất khẩu lớn nhất sang Anh gồm: bộ comple, áo jacket, blazer cho phụ nữ hoặc trẻ em gái, áo khoác ngoài, áo choàng cho phụ nữ hoặc trẻ em gái; áo bó, áo chui đầu, áo cài khuy (cardigan), gile và các mặt hàng tương tự, dệt kim hoặc móc; Áo choàng, áo sơ mi và áo choàng sơ mi phỏng kiểu nam dùng cho phụ nữ hoặc trẻ em gái; áo phông, áo may ô và các loại áo lót khác…

Trước đây, hàng may mặc của Việt Nam vào Anh phải cạnh tranh với hàng hóa của các quốc gia khác có các chương trình/hiệp định cắt giảm thuế quan với Anh như Bangladesh, Trung Quốc, Pakistan, Campuchia, tuy nhiên, sau khi UKVFTA có hiệu lực, hàng hóa từ Việt Nam sẽ được hưởng những lợi ích thuế quan tương đương, từ đó nâng sức cạnh tranh của các mặt hàng dệt may từ Việt Nam.

Với kim ngạch tăng trưởng xuất khẩu ở mức 2 con số trong nhiều năm liền, Việt Nam hiện đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu giày dép. Kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam liên tục tăng trong giai đoạn 2010 – 2019, từ mức 5,1 tỷ USD năm 2010 tăng gấp hơn 3,5 lần, đạt 18,3 tỷ USD năm 2019.

Mặc dù đứng thứ 2 thế giới nhưng xuất khẩu giày dép của Việt Nam chỉ chiếm 8% kim ngạch xuất khẩu toàn cầu. Anh là thị trường xuất khẩu giày dép có tiềm năng lớn nhưng rất cạnh tranh. Tuy nhiên, so sánh với các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc, Hà Lan, Italia, Bỉ, Đức, trong năm 2019 Việt Nam vẫn chịu mức thuế quan cao thứ 2 trong 15 nước xuất khẩu giày dép nhiều nhất vào Anh với mức thuế trung bình 6,7 %. Từ sau Hiệp định UKVFTA thuế suất sẽ được cắt giảm theo lộ trình và sẽ xuống mức 0% tùy từng mặt hàng, từ đó sẽ giúp cho các sản phẩm giày dép của Việt Nam có thể cạnh tranh với các sản phẩm của các nước khác.

Thủy sản là ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, ta có lợi thế về cả kinh nghiệm, năng lực sản xuất và nguồn cung dồi dào. Nhu cầu nhập khẩu mặt hàng thủy sản của Anh khá lớn, khoảng 4,4 tỷ USD/năm, trong khi đó giá trị xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 6,7%. Các thị trường xuất khẩu thủy sản chính sang Anh là: Trung Quốc, Ireland, Thụy Điển…

Dịch Covid-19 làm thay đổi xu hướng tiêu dùng và nhập khẩu từ Anh. Người tiêu dùng hướng tới những sản phẩm thủy sản dễ tiêu thụ ở nhà, dễ bảo quản, dễ chế biến, tiện dụng và có mức giá trung bình thấp. Cá tra đông lạnh của Việt Nam đang là một lợi thế lớn và là điểm sáng ngành thủy sản xuất khẩu sang Anh hiện nay khi là nhà cung cấp hàng đầu có mức giá phù hợp và quy trình chế biến của nhiều doanh nghiệp Việt Nam được thị trường EU và Anh chấp nhận.

Tuy vậy, để có thể đem các sản phẩm của Việt Nam vào thị trường Anh quốc, hàng hóa Việt Nam cần đáp ứng tiêu chuẩn cao về chất lượng, thẩm mỹ, vệ sinh, môi trường với giá cả cạnh tranh, đảm bảo các tiêu chuẩn xuất xứ, để có thể tận dụng tốt nhất các ưu đãi từ Hiệp định. Ngoài ra, việc lựa chọn sử dụng đồng bảng Anh hay đồng USD trong đàm phán, ký kết hợp đồng thương mại đòi hỏi doanh nghiệp phải theo dõi sát biến động tỷ giá giữa đồng bảng Anh và đồng USD, từ đó có thể cân nhắc, ký kết những hợp đồng kinh tế có lợi nhất cho doanh nghiệp mình.

Thứ Hai, 13 tháng 3, 2023

Lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ trong kinh doanh thương mại



Nghĩa vụ quan trọng nhất của các bên trong Hợp đồng thương mại là giao hàng cung ứng dịch vụ và thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo thỏa thuận. Tuy nhiên trên thực tế thường xuyên xảy ra việc một bên hoặc các bên thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình, gây thiệt hại cho bên còn lại. Đặc biệt, đối với trường hợp vi phạm nghĩa vụ thanh toán, bên bị thiệt hại có thể yêu cầu bên gây thiệt hại phải thanh toán tiền lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ cho mình.


Điều 306 Luật thương mại 2005 có quy định về việc áp dụng lãi suất do việc chậm thanh toán như sau: Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Như vậy, lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ trong kinh doanh thương mại được áp dụng theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Tuy nhiên, Luật thương mại 2005 thời điểm đó chưa có quy định cụ thể về lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường. Hiện nay, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP đã có hướng dẫn chi tiết về mức lãi suất này. Khi xác định lãi suất chậm trả đối với số tiền chậm trả, Tòa án căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 (ba) ngân hàng thương mại (Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam,…) có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm) để quyết định mức lãi suất chậm trả, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Đối với trường hợp các bên không thỏa thuận về việc trả lãi thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.