Hiển thị các bài đăng có nhãn Thành lập doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thành lập doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2023

Việt Nam thu hút đầu tư FDI 10 tháng năm 2021



Năm 2021, do sự bùng phát mạnh của dịch Covid-19 trên toàn thế giới, khiến tình hình kinh tế thế giới ảnh hưởng nghiêm trọng. Điều này ảnh hưởng lớn tới việc thực hiện đầu tư của các nhà đầu tư trên thế giới. Tuy vậy, Việt Nam vẫn thực hiện nhiều chính sách thu hút đầu tư, nhằm kêu gọi các nhà đầu tư lớn thực hiện đầu tư, nhằm thực hiện “mục tiêu kép” vừa chống dịch vừa phát triển kinh tế – xã hội và đạt được kết quả cao.


Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến 20/10/2021, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài đạt 23,74 tỷ USD, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm 2020. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt 15,15 tỷ USD, giảm 4,1% so với cùng kỳ năm 2020.

Tính lũy kế đến ngày 20/10/2021, cả nước có 34.266 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 404 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài ước đạt trên 247 tỷ USD, bằng 61,1% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.

Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt 12,74 tỷ USD, chiếm 53,7% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp đó là ngành sản xuất, phân phối điện đứng thứ 2 với tổng vốn đầu tư 5,54 tỷ USD, chiếm 23,3% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo lần lượt là các ngành kinh doanh bất động sản, bán buôn, bán lẻ với tổng vốn đăng ký đạt lần lượt là 2,12 tỷ USD và trên 803 triệu USD.

Nếu xét về số lượng dự án mới thì công nghiệp chế biến chế tạo, bán buôn bán lẻ và hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ là các ngành thu hút được nhiều dự án nhất, chiếm lần lượt 33,1%, 27,8% và 16% tổng số dự án.

Đã có 97 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong 10 tháng năm 2021. Trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư 6,77 tỷ USD, chiếm 28,5% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Hàn Quốc đứng thứ hai với 4,15 tỷ USD, chiếm 17,5% tổng vốn đầu tư. Nhật Bản đứng thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 3,4 tỷ USD, chiếm 14,3% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan,…

Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 58 tỉnh, thành phố trên cả nước trong 10 tháng. Long An dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký 3,68 tỷ USD, chiếm 15,5% tổng vốn đầu tư đăng ký, trong đó có dự án điện lớn lên tới 3,1 tỷ USD (chiếm tới 84,2% tổng vốn đầu tư của Long An). TP Hồ Chí Minh đã trở lại vị trí thứ hai với trên 2,73 tỷ USD, chiếm 11,5% tổng vốn đầu tư. Hải Phòng đứng thứ ba với tổng vốn đăng ký 2,72 tỷ USD, chiếm gần 11,5% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo lần lượt là Bình Dương, Cần Thơ, Quảng Ninh,…

Xét về số dự án, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn tập trung đầu tư nhiều tại các thành phố lớn, có cơ sở hạ tầng thuận lợi như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bắc Ninh. Trong đó, TP Hồ Chí Minh dẫn đầu cả về số dự án mới (34,1%), số lượt dự án điều chỉnh (17,7%) và góp vốn, mua phần vốn góp (59,4%).

Bên cạnh đó, Việt Nam đã thực hiện chính sách thu hút đầu tư có chọn lọc (giảm số lượng, tăng về chất lượng) nhằm loại bỏ các dự án quy mô nhỏ, ít giá trị gia tăng. Điều này cũng ảnh hưởng một phần tới số lương các dự án của các nhà đầu tư nhỏ dự định đầu tư tại Việt Nam.

Ngoài ra, để đảm bảo an toàn trong việc phòng chống dịch Covid-19, Việt Nam đã áp dụng chính sách hạn chế nhập cảnh và thực hiện cách ly dài ngày, điều này ảnh hưởng đến tiến độ khảo sát, làm thủ tục đầu tư của các chuyên gia và nhóm phát triển dự án.

Do ảnh hưởng của dịch bệnh, Việt Nam đã thực hiện phong tỏa nhà máy và hạn chế di chuyển của người lao động trong các khu công nghiệp làm đình trệ sản xuất, giảm công suất và sản lượng, đứt gãy chuỗi cung ứng cũng góp phần làm ảnh hưởng đến tâm lý của các nhà đầu tư mới đang có kế hoạch đầu tư vào Việt Nam.

Trong năm 2021, do nhiều yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện đầu tư của nhà đầu tư quốc tế tới Việt Nam. Tuy nhiên, với nhiều chính sách hỗ trợ, thu hút đầu tư, Việt Nam vẫn trở thành điểm đến đầu tư của nhiều nhà đầu tư lớn trên thế giới. Trong cuối năm 2021 và đầu năm 2022, với nhiều chính sách thu hút FDI nhằm vực dậy nền kinh tế sau dịch. Việt Nam hi vọng rằng, các nhà đầu tư quốc tế có thể nắm bắt cơ hội để thực hiện đầu tư, thành lập công ty, xin giấy phép đầu tư, nhằm đem lại lợi ích kinh tế tốt nhất cho mình.

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2023

Thu hút FDI tại Việt Nam tăng mạnh trong năm 2021

 



Năm 2021, do ảnh hưởng của dịch Covid-1, nền kinh tế của Việt Nam và toàn thế giới bị ảnh hưởng nặng nề. Tuy nhiên, với mục tiêu ngăn chặn dịch bệnh và phát triển kinh tế, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả cao trong việc thu hút FDI vào Việt Nam.


Theo số liệu mới nhất từ Tổng cục Thống kê-Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng số vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 20/12/2021 bao gồm cấp mới, đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với năm 2020.

Trong năm 2021, có 1.738 dự án đầu tư mới được cấp phép, với số vốn đăng ký là 15,25 tỷ USD, tăng 4,1% số vốn đăng ký so với năm trước. Về đăng ký vốn điều chỉnh, số vốn đầu tư điều chỉnh tăng thêm 9,01 tỷ USD, tăng 40,5% so với năm 2020. Về vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài: Có 3.797 lượt với tổng giá trị góp vốn 6,89 tỷ USD, trong đó, có 1.535 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 5,03 tỷ USD và 2.262 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 1,86 tỷ USD.

Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt trên 18,1 tỷ USD, chiếm 58,2% tổng vốn đầu tư đăng ký. Ngành sản xuất, phân phối điện mặc dù thu hút được số lượng dự án mới, điều chỉnh cũng như góp vốn mua cổ phần không nhiều, song có dự án có quy mô vốn lớn nên đứng thứ 2 với tổng vốn đầu tư trên 5,7 tỷ USD, chiếm 18,3% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo lần lượt là các ngành kinh doanh bất động sản; bán buôn, bán lẻ với tổng vốn đăng ký đạt lần lượt là trên 2,6 tỷ USD và trên 1,4 tỷ USD.

Đã có 106 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong năm 2021. Trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư trên 10,7 tỷ USD, chiếm 34,4% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, tăng 19,1% so với cùng kỳ 2020; Hàn Quốc đứng thứ hai với gần 5 tỷ USD, chiếm 15,9% tổng vốn đầu tư, tăng 25,4% so với cùng kỳ. Nhật Bản đứng thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 3,9 tỷ USD, chiếm 12,5% tổng vốn đầu tư, tăng 64,6% so với cùng kỳ. Tiếp theo là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan,…

Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư thành lập công ty, xin giấy phép đăng ký đầu tư vào 59 tỉnh, thành phố trên cả nước trong năm 2021. Hải Phòng vượt qua Long An vươn lên dẫn đầu trong cả năm với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 5,26 tỷ USD, chiếm 16,9% tổng vốn đầu tư đăng ký và gấp gần 3,5 lần so với cùng kỳ năm 2020. Long An xếp thứ hai với trên 3,84 tỷ USD, chiếm 12,3% tổng vốn đầu tư cả nước. TP Hồ Chí Minh đứng vị trí thứ ba với gần 3,74 tỷ USD, chiếm gần 12% tổng vốn đầu tư, giảm 14,2% so với cùng kỳ. Tiếp theo lần lượt là Bình Dương, Bắc Ninh, Hà Nội.

Trong năm 2021, mặc dù phải thực hiện các chính sách nhằm giảm thiểu sự lây lan của dịch bệnh, tuy nhiên, Việt Nam vẫn thực hiện các chính sách phát triển kinh tế, hợp tác với các quốc gia, khu vực trên thế giới nhằm phát triển thương mại. Thành quả thu hút đầu tư nước ngoài trong năm 2021 nêu trên chính là kết quả cho sự nỗ lực không ngừng của Việt Nam. Việt Nam vẫn đang tiếp tục thực hiện nhiều chính sách thu hút đầu tư, phát triển thương mại với các quốc gia, khu vực, để Việt Nam luôn là điểm đến hàng đầu của các nhà đầu tư lớn trên thế giới.

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2023

Đầu Tư Ra Nước Ngoài Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam

 



1. Thế nào là đầu tư ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam?

Hoạt động đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài, sử dụng lợi nhuận thu được từ nguồn vốn đầu tư này để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ở nước ngoài.


Nhà nước khuyến khích đầu tư ra nước ngoài nhằm khai thác, phát triển, mở rộng thị trường; tăng khả năng xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, thu ngoại tệ; tiếp cận công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực quản trị và bổ sung nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài phải tuân thủ quy định của Luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan, pháp luật của quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư (sau đây gọi là nước tiếp nhận đầu tư) và điều ước quốc tế có liên quan; tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động đầu tư ở nước ngoài.

2. Các hình thức đầu tư ra nước ngoài

Nhà đầu tư có thể tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài dưới một trong các hình thức sau:

– Thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư;

– Đầu tư theo hình thức hợp đồng ở nước ngoài;

– Góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế ở nước ngoài để tham gia quản lý tổ chức kinh tế đó;

– Mua, bán chứng khoán, giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài;

– Các hình thức đầu tư khác theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư.

Nhà đầu tư cần lưu ý, để đầu tư ra nước ngoài với các hình thức kể trên, nhà đầu tư nước ngoài không được đầu tư vào các ngành, nghề cấm đầu tư ra nước ngoài sau:

– Ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh quy định tại Điều 6 của Luật Đầu tư và các điều ước quốc tế có liên quan.

– Ngành, nghề có công nghệ, sản phẩm thuộc đối tượng cấm xuất khẩu theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại thương.

– Ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư.

Để đầu tư kinh doanh ra nước ngoài, đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện, nhà đầu tư cần thỏa mãn các điều kiện riêng biệt được quy định đối với từng ngành nghề tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế về đầu tư mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các ngành nghề này bao gồm:

– Ngân hàng;

– Bảo hiểm;

– Chứng khoán;

– Báo chí, phát thanh, truyền hình;

– Kinh doanh bất động sản.

Cụ thể điều kiện đầu tư ra nước ngoài đối với các ngành nghề trên như sau:

Đối với các ngành, nghề ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, nhà đầu tư phải đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản.

Đối với ngành, nghề báo chí, phát thanh, truyền hình, nhà đầu tư là tổ chức đã được cấp phép hoạt động báo chí, phát thanh, truyền hình tại Việt Nam và được Bộ Thông tin và Truyền thông đồng ý bằng văn bản.

Đối với ngành, nghề kinh doanh bất động sản nhà đầu tư là doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp.

3. Điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài (“OIRC”)

Trong một số trường hợp nhất định, Nhà đầu tư muốn đầu tư ra nước ngoài phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định tại từ Điều 56 đến Điều 58 Luật Đầu tư 2020. Trường hợp không phải xin chấp thuận chủ trường đầu tư theo quy định của Luật đầu tư thì Nhà đầu tư tiến hành xin Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

Để được cấp OIRC, nhà đầu tư phải đáp ứng các điều kiện sau:

– Hoạt động đầu tư ra nước ngoài phù hợp với nguyên tắc đầu tư tại Luật Đầu tư.

– Không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư ra nước ngoài quy định tại cấm đầu tư của Luật này và đáp ứng điều kiện đầu tư ra nước ngoài đối với ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện.

– Nhà đầu tư có cam kết tự thu xếp ngoại tệ hoặc có cam kết thu xếp ngoại tệ để thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài cửa tổ chức tín dụng được phép.

– Có quyết định đầu tư ra nước ngoài (đối với doanh nghiệp nhà nước).

– Có văn bản của cơ quan thuế xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của nhà đầu tư. Thời điểm xác nhận của cơ quan thuế là không quá 03 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ dự án đầu tư.

4. Triển khai hoạt động đầu tư ở nước ngoài

a. Mở tài khoản vốn đầu tư ra nước ngoài

Nhà đầu tư mở tài khoản vốn đầu tư ra nước ngoài tại một tổ chức tín dụng được phép tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.

Mọi giao dịch chuyển tiền từ Việt Nam ra nước ngoài và từ nước ngoài về Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài phải thực hiện thông qua tài khoản vốn đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.

b. Chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài

Nhà đầu tư có thể chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư khi đáp ứng các điều kiện sau:

– Đã được cấp OIRC (ngoại trừ trường hợp nhà đầu tư chuyển ngoại tệ, hàng hóa, máy móc, thiết bị ra nước ngoài trước khi được cấp OIRC để đáp ứng các chi phí cho hoạt động hình thành dự án đầu tư);

– Hoạt động đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại chấp thuận hoặc cấp phép. Trường hợp pháp luật nước sở tại không quy định việc cấp phép đầu tư hoặc chấp thuận đầu tư thì nhà đầu tư phải có tài liệu chứng minh quyền đầu tư tại nước sở tại;

– Có tài khoản vốn đầu tư ra nước ngoài.

c. Chuyển lợi nhuận về Việt Nam

Trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày quyết toán thuế hằng năm, nhà đầu tư phải chuyển toàn bộ lợi nhuận thu được và các khoản thu nhập khác từ hoạt động đầu tư ra nước ngoài về Việt Nam. Trường hợp sử dụng lợi nhuận để tăng vốn đầu tư, mở rộng kinh doanh, thực hiện dự án đầu tư mới ra nước ngoài thì nhà đầu tư được giữ lại lợi nhuận thu được từ đầu tư ra nước ngoài để tái đầu tư.

Trường hợp nhà đầu tư không thể chuyển lợi nhuận và doanh thu về Việt Nam trong thời hạn quy định thì phải thông báo trước bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền. Thời hạn gia hạn chuyển lợi nhuận về Việt Nam không quá 12 tháng, kể từ ngày hết thời hạn quy định nêu trên.

Trường hợp hết thời hạn nhưng nhà đầu tư chưa chuyển lợi nhuận về Việt Nam mà không thông báo trước hoặc hết thời hạn mà nhà đầu tư chưa chuyển lợi nhuận về Việt Nam, nhà đầu tư sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

d. Sử dụng lợi nhuận ở nước ngoài

Nhà đầu tư được giữ lại lợi nhuận thu từ đầu tư ở nước ngoài để tái đầu tư trong trường hợp sau đây:

– Tiếp tục góp vốn đầu tư ở nước ngoài trong trường hợp chưa góp đủ vốn theo đăng ký;

– Tăng vốn đầu tư ra nước ngoài;

– Thực hiện dự án đầu tư mới ở nước ngoài.

5. Quy định báo cáo về hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Hoạt động đầu tư ra nước ngoài sẽ được nhà nước giám sát thông qua báo cáo của các nhà đầu tư. Sau khi được cấp OIRC, nhà đầu tư được cấp tài khoản truy cập Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư để thực hiện chế độ báo cáo định kỳ theo quy định. Hiện nay, chế độ báo cáo của chủ đầu tư được thực hiện như sau:

Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày dự án đầu tư được chấp thuận hoặc cấp phép theo quy định của pháp luật nước sở tại, nhà đầu tư phải nộp thông báo về việc thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài kèm theo tài liệu chứng minh quyền đầu tư tại nước sở tại;

Nhà đầu tư gửi báo cáo hàng quý và hàng năm về tình hình hoạt động của dự án đầu tư của mình;

Trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày có quyết toán thuế hoặc văn bản khác có giá trị pháp lý tương đương theo quy định của pháp luật nước sở tại, nhà đầu tư phải nộp báo cáo tình hình hoạt động của dự án đầu tư trong năm tài chính theo quy định của pháp luật nước sở tại cũng như bảng kê khai và quyết toán thuế.

Cuối cùng, khi thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam cần tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước sở tại nơi thực hiện hoạt động đầu tư. Vì vậy, doanh nghiệp cần lưu ý những vấn đề này để tránh rủi ro pháp lý trong quá trình đầu tư ra nước ngoài.

Nguồn: https://www.antlawyers.com/dich-vu/dau-tu-ra-nuoc-ngoai-theo-quy-dinh-cua-phap-luat-viet-nam/